13. Con chó của bà Mai

DSC_7427Không phải ba tôi tin ông có thể làm được cái điếu cày trong vòng mười lăm phút, cũng không phải ba tôi tin nếu làm được điếu cày trong vòng mười lăm phút thì ông sẽ được tha bổng. Tha sao được mà tha. Tính mạng của ba tôi gắn bó không rời với tính mạng Đội Trưởng, ông được sống tất Đội Trưởng phải chết, không chết cũng tàn đời.

Ấy là Đội trưởng nghĩ vậy, không đời nào Đội trưởng tin nếu được tha bổng thì ba tôi sẽ đội ơn Đội trưởng suốt đời. Đội trưởng đâu biết ba tôi là người không biết trả thù, không có khả năng trả thù. Ba tôi đủ phẩm hạnh đi theo nhà Phật chứ không đủ bản lĩnh đi theo cách mạng, nơi luôn luôn coi hạnh phúc là đấu tranh. Sai lầm là chỗ đó, khiến ba tôi suốt đời khốn nạn, chưa có lấy một ngày hạnh phúc là chỗ đó.

Nhưng ba tôi biết Đội trưởng nghĩ thế này: Lúc này đây ba tôi đã mất hết quần chúng, có nói gì cũng chẳng ai tin. Một khi ông đã được tha bổng trước sau ông cũng có quần chúng trong tay. Thứ quần chúng chỉ biết hỉ nộ ái ố theo chỉ thị lúc nào cũng có sẵn, ở đâu cũng có sẵn. Bất kì ai ở trường hợp như ông cũng  thừa sức đưa Đội Trưởng vào vòng lao lý, đang khi tội hủ hóa là một tội tày đình.

Chuyện này không ai dạy Đội Trưởng cũng biết thừa, mấy chục năm được giáo dục về việc xác định kẻ thù tại sao Đội trưởng lại không biết. Không xác định được kẻ thù là không biết làm cách mạng không nên làm cách mạng, bài học đầu tiên từ ngày Đội trưởng cầm dao phay theo Thủ trưởng lên núi Chóp Chài. Ý thức xác định kẻ thù lâu ngày trở thành một kĩ năng sống giúp Đội trưởng trừ gian diệt ác thành công, thành công luôn cả việc hạ thủ những ai có nguy cơ gây hại cho mình.

Khi Đội trưởng đã xác định xong kẻ thù, tức xác định xong vấn đề có mày không tao, chỉ có trời may ra có thể cứu mạng ba tôi. Vì thế hơn một giờ sấp mặt giữa sân đình ba tôi chỉ có một ý nghĩ duy nhất: Trốn! Chỉ có cách bỏ chạy mới hòng thoát thân, dù tỉ lệ thoát thân chỉ chiếm một phần nghìn. Trốn có thể sống, không trốn chắc chắn chết, thế thì tại sao không trốn. Chạy đi đâu, chạy bằng cách nào? không biết. Nhưng phải  bỏ chạy, biệt tích trong vòng một năm, hoặc hai năm hoặc lâu lâu hơn nữa, nhất định có ngày Đội Trưởng biến mất và ông sẽ được trở về với vợ con, với quê hương bản quán.

Chợt hiện ra trong ông con đường đến đỉnh Chóp Chài. Mười lăm năm trước ông đã lần mò đến đấy để gặp gỡ và đi theo những người cùng chí hướng. Nơi ấy bây giờ không còn ai, tất cả đã xuống núi.  Ba tôi vẫn nhớ hang đá rộng chừng năm chục mét, gọi là hang treo, nơi hẹn hò bí mật của ông và bà Mai. Hang treo nằm giữa lưng chừng đỉnh Chóp Chài có năm lối thoát bí mật chỉ có ông và bà Mai mới biết. Có thể sống lâu dài ở đấy, có nơi để tắm rửa vệ sinh, có lối mò vào rừng kiếm ăn, có chỗ nấu nướng không có khói. Đặc biệt  cái hầm bí mật dưới tảng đá lớn phẳng lì, chỉ cần trưởn qua khe hở hẹp là tụt xuống cái hầm rộng rinh rang, từ đó có lối nhỏ đi ra sông Đăk’ So chảy về đất Lào. Thật tuyệt vời, không nơi ẩn nấp nào tốt hơn .

Sau tiếng dạ reo vang giữa mưa to gió lớn của ba tôi, bốn sợi dây thừng được tháo tung. Không kịp nói lời chia tay với vợ con, ông chạy vụt đi, hướng bụi tre ngà cuối xóm Lù mà lao tới. Đó là nơi ba tôi hay tới để chọn ống điếu, ba tôi phải tỏ cho Đội trưởng biết ông đang chạy về đâu. Ông chạy nhanh đến nỗi Đội trưởng không kịp nghĩ phải cắt cử người đi theo. Trời đã giúp ba tôi gây nên cơn nghiện thuốc lào điên cuồng khiến Đội trưởng lú lấp mất cảnh giác.

Mất chín phút ba tôi tới được bụi tre ngà làng Lù, sáu phút vượt qua bãi phi lao cằn, sấp mặt chạy cật lực mất mười một phút mới tới làng Nổ. Lúc này Đội Trưởng bắt đầu khả nghi, cho người đi tìm. Ba tôi biết đích xác thời gian kể từ khi Đội Trưởng khả nghi sai người đi tìm, người đi tìm trở về báo không tìm thấy, lại sai người đi tìm một lần nữa, lại trở về báo không tìm thấý, Đội Trưởng quyết định huy động một ngàn hai trăm quần chúng càn quét khắp Thị Trấn. Khi biết chắc chắn ba tôi đã bỏ trốn, Đội Trưởng huy động khẩn cấp trung đội dân quân đuổi theo, nhanh lắm cũng phải mất một giờ. Khi đó ba tôi đã vượt qua bàu sen làng Ó chạy về rừng trâm bầu làng Pháp. Phải trốn ở đấy đợi đến tối mới lội qua cánh đồng trống làng Xá tìm đến làng Trung. Từ làng Trung về Chóp Chài chừng hơn hai chục cây số đường rừng, ba tôi có lối đi riêng người Thị trấn  không ai biết, trừ ông Kiểm Hát. Đến đây sự sống của ba tôi có thể cầm chắc đến chín chục phần trăm.

Ba tôi chạy về làng Pháp trong khát vọng sống mỗi lúc một rực lên. Ông chạy thục mạng trên trảng cát có hằng hà sa số những bụi cây lúp xúp, vượt qua làng Nổ khá dễ dàng không một ai phát hiện, hay ít ra ông cũng có cảm tưởng không bị ai phát hiện. Cách rừng trâm bầu làng Pháp không đầy hai cây số, ba tôi dừng lại . Ông đứng trên một đụn cát cao, nhìn về phía sau. Không có ai đuổi theo. Gương  mặt đầm đìa mồ hôi nhem nhuốc đất cát của ba tôi nở một nụ cười mãn nguyện và tắt ngay lập tức khi ông nhớ ra đây là thời điểm Đội trưởng huy động trung đội dân quân khẩn cấp đuổi theo ông, chắc chắn họ được lệnh đuổi theo tiêu diệt chứ không phải đuổi theo bắt sống.

Lại chạy. Ba tôi vừa chạy vừa cầu trời khấn phật sao cho không một ai trông thấy ông đang chạy về rừng trâm bầu làng Pháp. Bất cứ ai trông thấy một kẻ hớt hải chạy sấp ngửa trên trảng cát, vừa chạy vừa ngoái lại, đều biết kẻ đó đang chạy trốn. Khi cuộc cách mạng long trời lỡ đất bùng nổ, thắng lợi dễ thấy nhất là trộm cắp cướp giật đĩ điếm biến mất tiêu, sạch bách dưới bầu trời cách mạng. Vậy kẻ chạy trốn tất nhiên là bọn phản động lũ Việt gian, không ai khác. Người ta sẽ xông đến chụp cổ ngay lập tức, cơ hội vàng cho họ được báo công. Trong cuộc cách mạng long trời lỡ đất này, báo công là niềm vinh dự lớn lao cho những bần cố nông suốt đời chưa biết thế nào là vinh dự.  Sẽ không một ai có thể trốn thoát một khi bị niềm vinh dự ấy tấn công, huống hồ là ba tôi một kẻ cùng đường.

Chỉ còn vài trăm mét nữa là đến bìa rừng trâm bầu làng Pháp, ba tôi  cố rướn lên nhưng không thể. Một ngày bỏ ăn một đêm thức trắng, bây giờ phải chạy sáu cây số cát ba tôi đã hoàn toàn kiệt sức. Bước hụt xuống hố cát nhỏ, ông rơi sấp xuống lịm dần đi. Phút sau ba tôi hoảng hốt bừng tỉnh. Nhanh, thật nhanh, nếu không trung đội dân quân sẽ đuổi kịp. Ông chạy, lại bước hụt xuống hố cát nhỏ, lại rơi sấp xuống. Lần này ba tôi không thể đứng lên, gắng gượng mấy lần cũng không thể. Ba tôi bò,  cúi gầm mặt nghiến răng dấn lên từng mét một, kì thực ông không nhìn thấy gì, không biết mình bò được bao nhiêu cho đến khi  rơi xuống hố cát rất lớn và bất ngờ chạm phải dòng nước mát lạnh.

Nước đã làm ba tôi hồi sức. Nằm tùm hum vục mặt xuống hố nước uống một hơi dài, thêm một hơi dài nữa ông tỉnh hẳn, mắt sáng dần ra. Rũ sạch đám sương mù trong đáy mắt, ba tôi giật mình thấy một cái bóng đen dưới hố nước, cho thấy ai đó đang ngồi trên miệng hố. Toàn thân ông co cứng, lạnh ngắt.  Không dám ngước lên, ba tôi ngồi im chờ đợi một tiếng thét, lạ thay vẫn không có ai lên tiếng.

Ba tôi từ từ nhìn lên miệng hố. Con Ba Đốm, con chó đen to lớn của bà Mai, đang mở to mắt nhìn ông, cái nhìn ướt sũng nước. Ba tôi nhớ nó phần vì nó có ba đốm lông trắng phau ở lưng ở ức và ở trán, phần vì đôi mắt to lớn dị thường của nó với cái nhìn ướt sũng nước. Nó là chú lính gác tuyệt vời cho các trận tình của ông với bà Mai trên trảng cát, bên bờ sông, trong rừng trâm bầu… cả những trận tình bất chợt ở góc đường hẻm phố nhà kho, bất cứ nơi nào ba tôi cao hứng con Ba Đốm đều sẵn sàng làm chú lính gác trung thành và cẩn mật.

Tại sao con Ba Đốm lại tìm ba tôi, bà Mai ở đâu sao không thấy? Ngày thường nó luôn quấn quít bên bà, cả khi bà đi xia nó cũng không rời. Nó ngồi thè lè lưỡi nhìn bà đang ngồi chồm hổm sau bụi cây, bà đi xong là hồ hởi xông tới chén ngon lành, phần thưởng vua ban chắc cũng không ngon đến thế.  Đôi khi ba tôi lởn vởn chút nghi ngờ quan hệ của bà Mai và con Ba Đốm, bởi vì nó to lớn và sexy trong khi bà Mai quá tuổi ba mươi vẫn không có chồng. Nhưng rồi ba tôi biết chắc không có gì bất thường, con chó vẫn là con chó, nó trung thành và ngưỡng mộ bà chủ, ngưỡng mộ  luôn người đàn ông duy nhất trên bụng bà là ba tôi. Một lần đang ở trên bụng bà Mai, ba tôi bắt gặp cái nhìn ướt nước của nó. Tuyệt không khó chịu hay ghen ghét, đó là cái nhìn chứa chan hạnh phúc. Con Ba Đốm hạnh phúc khi thấy bà chủ của nó đang hạnh phúc, thật tuyệt vời. Thế giới hiếm có con chó nào như nó. Chẳng những thế, xong trận tình nó con tiến tới kính cẩn hồ hởi liếm chân ba tôi, ngôn ngữ biết ơn của con Ba Đốm.

Con Ba Đốm vẫn ngồi trên miệng hố nhìn ba tôi, đôi mắt ướt nước của nó như muốn nói một điều gì. Quá mệt mỏi và lo sợ, ba tôi không quan tâm vì sao nó tìm ông và bà chủ của nó đang ở đâu, nó muốn nói điều gì ông cũng không quan tâm, ông sợ nếu nó cứ bám theo thế này trước sau cũng bị lộ. Ba tôi bò lên miệng hố ra hiệu cho con Ba Đốm chạy đi. Nó ngồi trố mắt nhìn ông chừng như không hiểu. Ba tôi  tay chỉ miệng quát, nói Ba Đốm đi đi, đi khỏi đây ngay. Đừng bám theo tau.

Và ba tôi lảo đảo bước đi, ngoảnh lại vẫn thấy nó ngồi nhìn theo chứ không chạy đuổi theo, mừng quá ông ù té chạy. Đến gần bìa rừng trâm bầu làng Pháp, chỉ cần chục bước nữa là  chui được vào rừng  bỗng có tiếng súng vang lên, ba tôi đứng khựng, mồ hôi lạnh tóa ra, toàn thân bủn rủn. Ông quị xuống và lịm đi trong khi bên tai ông vẫn vang vang lời thúc dục: Chạy đi, chạy nhanh lên, Đội trưởng sắp đến rồi!

Chập chờn trong gíấc mơ mệt nhọc của ba tôi, dưới hố nước ông vừa rơi xuống, người đàn bà đẹp nhất chiến khu Chóp Chài đang khoả thân bơi vòng quanh, thỉnh thoảng vẫy tay gọi ông, không nói gì hết chỉ vẫy tay, bộ ngực tròn căng nhô khỏi mặt nước như mời gọi. Bốn chục mối tình nửa nắng của ba tôi người tình nào cũng đẹp, bà Mai là người tình đẹp nhất, cũng là người yêu ông nhất. Nhưng ba tôi không yêu bà, không một mảy may, ông chỉ thích vậy thôi. Khi bà ở trong vòng tay, mùi đàn bà sực nức  bốc lên, ba tôi điên cuồng vùi dập bà hết trận này đến trận khác. Xong rồi thôi, ít khi ông quan tâm đến bà, nhớ nhung chỉ có trên đầu lưỡi, yêu thương da diết lại càng không.

Bà Mai biết ba tôi đã có vợ, đêm đầu tiên khi ngủ với ông trong hang đá treo lưng chừng  đỉnh Chóp Chài năm 1947, bà đã nghe ông kể về vợ ông và bốn đứa con hai trai hai gái. Nói chung ba tôi không giấu diếm chuyện vợ con với bốn chục người tình nửa nắng, ông chơi bài ngửa và không hứa hẹn với ai một điều gì. Đối với ông tình là thương nhau và sexy và chấm hết. Ai ra giá với ông về tương lai, người đó trước sau cũng bị loại khỏi cuộc chơi. Một lần bà Mai ôm ông thì thầm, nói em làm vợ hai anh có được không. Ba tôi hôn nhẹ bà, nói em phải có chồng, phải có chồng Mai nha.

Lời khuyên cũng lời kết thúc, kể từ đó ba tôi chấm dứt luôn những hẹn hò. Ông tắc lưỡi cho qua, phớt lờ những lời bà nhắn gửi vu vơ với ai đó, những lá thư  bà viết đầy lỗi chính tả, cả những lần bà bất ngờ đứng chắn ông ngang đường, ném cái nhìn hờn dỗi rồi quay ngoắt đi, đôi bờ vai rung lên sau mỗi lần nấc nghẹn. Không là không, trong tình trường chữ không của ba tôi được đổ bê tông, jamais et jamais, kinh!

Từ khi rời Chóp Chài theo các tiểu đoàn chủ lực về xuôi nhổ đồn bốt Tây, hai người thất lạc nhau chừng dăm năm. Ba tôi không biết bà Mai đi đâu, cũng không mấy quan tâm bà đi đâu. Nghe nói bà đã được điều lên làm bác sĩ riêng của Thủ trưởng, dù bà chỉ là một y tá. Người đẹp chiến khu được Thủ trưởng trưng dụng cũng là lẽ thường tình, nếu là ba tôi tất nhiên ông cũng trưng dụng. Ba tôi không xót, ông còn mừng cho bà, được Thủ trưởng rủ lòng thương còn gì bằng. Năm 1950 ba tôi theo tiểu đoàn chủ lực về nhổ ba đồn tây, giải phóng Thị trấn Linh Giang, gặp lại bà Mai trong đội cứu thương, ông đã mừng cho bà được Thủ trưởng rủ lòng thương. Ngay lập tức ba tôi đã bị bà cho một cái tát. Bà ôm mặt khóc rú lên, nói con Mai này đi làm cách mạng chứ không phải đi bán bướm.

Ba tôi ôm lấy bà cười chữa thẹn, nói anh đùa đấy mà. Bà ôm lấy ông nức nở thì thầm, nói chỉ cần anh yêu em, ngoài ra em không đòi hỏi gì hết, không bao giờ em đòi hỏi, em thề. Nguyên tắc jamais et jamais đã bị phá bỏ, ba tôi tiếp rục ngủ với bà, chả phải yêu đương gì, đơn giản ông chỉ ngủ với bà thôi.

Bà Mai không nghĩ thế, bà không hình dung được người ta không yêu nhau lại có thể ngủ với nhau. Nhiều lần Thủ trưởng đã quì mọp dưới chân bà xin bà cởi dây rút, không là không, chữ không của bà cũng được  đổ bê tông, bà bỏ đơn vị về làng Phù để bảo toàn cái chữ không ấy và để được gần gũi ba tôi hơn, từ làng Phù về Thị trấn Linh Giang chưa đầy chục cây số. Ba tôi không biết chuyện này, ông tưởng bà cũng được giải ngũ về địa phương giống như ông. Nếu biết, ông đã khuyên bà quay lại đơn vị  ngay lập tức, không thể nghĩ đơn giản mình tự nguyện theo cách mạng,  không muốn theo nữa thì về, cách mạng không phải trò chơi của con nít.

Vì không biết chuyện này, ba tôi không hiểu sao nhiều lần rên xiết trong vòng tay ông, được ông làm cho sướng điên lên, bà lại ôm ông rỉ rả khóc. Đã có giao hẹn với ba tôi rồi, bà không dám kể cho ông nghe nhiều lần Thủ trưởng cho người về làng Phù thông báo cho bà hay, bà phải quay lại đơn vị ngay, nếu không thì… Ba chữ nếu không thì  đã làm bà mất ngủ nhiều đêm. Tất nhiên bà không sợ việc phải quay lại đơn vị, thậm chí bà rất muốn, nhưng bà biết nếu quay lại đơn vị trước sau gì bà cũng bị điều lên làm bác sĩ riêng cho Thủ trưởng.

Trước khi ba tôi bị bắt ba ngày, ông có gặp bà Mai ở đình chợ. Bà luôn luôn về Thị trấn đi chợ phiên, chả phải mua bán gì, chỉ để gặp ba tôi. Bà hớt hãi kéo ông ra góc khuất sau đình chợ ôm chặt lấy ông, nói em phải làm vợ hai Thủ trưởng, nếu không thì… Dứt lời bà bỏ chạy, bà sợ ba tôi mắng cho, rằng đó là việc riêng của em tại sao lại hỏi anh, rằng lời hứa của em để đâu rồi, tại sao lại cứ cố ra giá với anh như thế. Bà chạy nhanh quá ba tôi không kịp mắng, cũng không kịp nghĩ ba chữ Nếu không thì nghĩa là gì.

Giờ đây trong giấc mơ mệt mỏi của ba tôi, dưới hố nước bà Mai đang khỏa thân bơi lội, con Ba Đốm đang ngồi canh trên miệng hố, cặp mắt ướt nước của nó đang nhìn ông, cái nhìn làm ông sực nhớ ba chữ Nếu không thì. Bỗng con Ba Đốm chồm tới trước mặt ông sủa vang vang, tiếng sủa giận dữ và khinh bỉ. Ba tôi bừng tỉnh, ông đã nằm mép rừng trâm bầu từ lúc nào. Ba tôi nhớ trước khi lịm đi ông còn cách mép rừng chừng chục bước, có ai đó đã kéo ông vào dưới tán cây trâm bầu to lớn này, ai vậy ta?

Nắng đã tắt từ lúc nào. Một ngày đã trôi qua ba tôi hảy còn sống, Đội trưởng vẫn chưa tóm được ông, niềm vui làm ba tôi khỏe hẳn, ông ngồi dậy ngó xung quanh, cố tìm hiểu xem ai đã kéo mình vào đây. Vừa lúc con Ba Đốm xuất hiện, miệng nó ngậm chùm khoai sống, chắc nó vừa bới được ở đâu đó. Ba tôi hiểu ra con Ba Đốm tới đây để cứu ông, ôi con chó tuyệt vời, chính nó đã ngoạm cổ áo ông lôi ông vào mép rừng và đi bới khoai sống cho ông ăn.

Ba tôi nhai khoai sống rau ráu, vừa ăn vừa vuốt ve con Ba Đốm, ngôn ngữ biết ơn của ba tôi. Có lẽ bà Mai đã biết chuyện của ông liền cử nó đi cứu ông chăng? Thế thì tại sao không chaỵ về nhà bà Mai nghỉ lại đó một đêm trước khi tìm về đỉnh Chóp Chai. Phải rồi, phải tới đó lấy ít lương thực dự trữ và báo cho bà Mai biết ông sẽ trốn ở đâu để bà tiếp tế lương thực cho ông, nếu không lấy gì để mà sống. Hình như con chó đoán được ý nghĩ của ba tôi, nó nhảy lên sung sướng sủa to mấy tiếng.

Trời tối, ba tôi đi theo con Ba Đốm vượt qua rừng trâm bầu làng Pháp về rừng trâm bầu làng Đông, lọ mọ chui qua xóm Bàu, nhanh chóng lọt vào rặng tre đầu làng Phù. Thế là xong. Nhà bà Mai ở đầu xóm, ba tôi biết có lối bí mật chui vào nhà bà để không ai nhìn thấy, ông  đã nhiều lần đi theo lối này rồi.

Con Ba Đốm không chịu vào nhà, nó đứng đầu ngõ cố tình cản ba tôi, không cho ông vào. Nhà Bà Mai tối đen, cửa sổ cửa chính đều khép kín. Có chuyện gì chăng? Con Ba Đốm ngoạm ống quần ba tôi khẽ kéo, hình như nó muốn nói đừng vào nhà nguy hiểm, hãy đi theo nó. Ba tôi lom khom chạy theo nó, chạy được một lúc thì nghe tiếng trống, chạy thêm một lúc nữa nghe tiếng hô muôn năm và đả đảo. Thôi chết rồi, có khi bà Mai cũng bị bắt như ba tôi, hiện đang bị xử trảm như ông. Con Ba Đốm tìm ông là vì thế.

Ba tôi quyết định theo con Ba Đốm tới đình  làng Phù, mọi cuộc xử trảm dân các làng vẫn hay tới xem, không sợ bị lộ. Đang khi Đội trưởng đang đuổi bắt, chính đó là nơi Đội trưởng không ngờ tới.

Quả nhiên đúng.

Cả một rừng đuốc sáng rực một góc làng, bà Mai đang bị cột chặt giữa sân đình. Chỉ cần nghe  dân làng Phù rạo rực hô muôn năm và đả đảo, dăm ba tiếng xì xào bàn tán, ba tôi biết ngay tội của bà Mai. Chẳng những bà là tên đào ngũ mà còn là  kẻ đã đỡ đẻ cho vợ một tên Việt gian bán nước và để cho tên này trốn thoát trong đêm. Ba tôi rùng mình  hiểu ra tội này có liên quan đến ba chữ Nếu không thì.

Ba tôi lẫn trong đám đông. Con Ba Đốm không chịu, nó cứ ngoạm ống quần cố lôi ông ra ngoài, đôi mắt ướt nước của nó nhìn ông như cầu cứu như van xin. Sợ con Ba Đốm làm dân làng Phù biết ông có liên quan đến bà Mai, ba tôi  bèn hất mõm nó và trốn biệt vào đám đông ở cuối sân đình. Con Ba Đốm tìm ông không ra, nó  chồm lên sủa vang vang, y chang tiếng sủa ba tôi nghe được  trong giấc mơ, tiếng sủa tức giận và khinh bỉ. Mọi người ồ lên. Đội trưởng làng Phù chỉ mặt bà Mai, nói nghe chưa Mai, chó mi cũng căm thù mi đó.

Ở đây người ta xử trảm bằng chém cổ. Đội trưởng làng Phù thích xử trảm bọn phản động bằng dao cùn chém cổ. Cứ một nhát chém là một lần hô đả đảo và muôn năm, hô đến rát họng cổ bà Mai vẫn chưa lìa. Cái cổ ba ngấn tuyệt vời kia chẳng ngờ lại dẻo và dai đến kì lạ. Phải mất non nửa giờ mới có thể làm đứt nó, thậm chí khi đầu bà đã gục hẳn xuống, phế quản đã phơi ra một cái lỗ đen ngòm, máu tươi phun ngược lên trời, xối khắp cơ thể bà, chỉ còn một tí da dính phía dưới ức, người ta chém thêm vài chục nhát nữa cái đầu vẫn bám chặt không chịu rơi.

Đội trưởng làng Phù phải nhảy ra cầm lấy hai tai bà vừa vặn vừa giật đến toát mồ hôi mới nhổ được cái đầu ra khỏi cổ. Cái cổ cao ba ngấn chỉ còn một dúm thịt đỏ lòm, xám ngoét. Đội trưởng làng Phù ném cái đầu xuống đống rơm bò ăn, nói bà con thấy chưa, vì răng cách mạng gọi bọn phản động là bọn đầu bò đầu bướu. Tiếng hô muôn năm và đả đảo vang rền, Đội trưởng làng Phù cười ha hả.

Bỗng đâu con Ba Đốm lao ra, nhảy lên ngoạm cổ Đội trưởng làng Phù. Hơn chục dân quân cầm dao phay xông tới, trong phút chốc con Ba Đốm bị chém làm đôi, lại bị chém làm tư , cái đầu nó đứt lìa. Đội trưởng làng Phù cầm cái đầu chó lên, nói à ha, tau tưởng mi căm thù con gián điệp, té ra chủ nào chó nấy. Dứt lời Đội trưởng làng Phù ném cái đầu chó ra xa, thật lạ nó rơi đúng dưới chân ba tôi, dân làng phù đang mải rạo rực hô muôn năm và đả đảo không ai biết.

Vào khi dân làng Phù đang rạo rực hô muôn năm và đả đảo, ba tôi cúi nhìn cái đầu con Ba Đốm. Đôi mắt nó mở trừng trừng. Con Ba Đốm đang trừng trừng nhìn ông, con chó đang nhìn ông, cái nhìn khô khốc, giận dữ và khinh bỉ.

Rút từ truyện dài Những chuyện có thật và bịa đặt của tôi

About these ads
By nguyenquanglap Posted in Truyện