11. Đàn kiến

DSC_7427Ba tôi bị dẫn đến Đình Làng nhốt vào kho đựng đồ tế lễ nhà Tả vu. Từ ngày có cuộc cách mạng long trời lỡ đất đấy là nơi giam giữ tử tù, dân chúng vẫn gọi là xà lim. Chính ba tôi chọn cái nhà kho này làm cái xà lim, nó được đổ bê tồng cốt thép, tường dày bốn tấc kín như bưng, voi không thể húc đổ kiến không thể bò qua. Thực tế ba năm qua hai mươi sáu tử tù giam giữ ở đây không một ai trốn thoát khỏi cái xà lim. Nó cũng là niềm tự hào nho nhỏ của ba tôi, khắp tỉnh không nơi nào có cái xà lim như thế.

Ba tôi bị đẩy vào xà lim. Cửa xà lim lập tức đóng sập, trong phút chốc bóng tối bỗng phủ kín đen đặc đến nỗi ba tôi không dám bước thêm một bước nào. Ông không thể thấy một chút gì trên cơ thể, đưa bàn tay lên sát mắt cũng không thấy. Thứ bóng tối đen đặc mà Balzac nói là có thể xắn được ra từng khúc lần đầu ba tôi mới chứng thực, ông buộc phải đứng yên, có cảm giác nếu động cựa ông sẽ va phải bóng tối. Và im lặng. Sự im lặng tuyệt đối. Im lặng rờn rợn. Im lặng cũng có thể xắn ra từng khúc. Tựa hồ ba tôi đang ở dưới đáy huyệt, người ta đã đem ông chôn sống ở nơi đây.

 Ba tôi đứng ngây ra giữa bóng tối và im lặng, không biết phải làm gì với chúng, Ông thử ngồi sụp xuống rồi lại thử đứng lên, cả đứng lên và ngồi xuống không cho ông một cảm giác gì. Ông thử đi vài bước, đi vài bước nữa… đầu óc vẫn rỗng không. Ở cái nơi cuộc sống tuồng như không tồn tại này, có cái gì đó rất vô nghĩa đang bao vây ông hay chính ông là sự vô nghĩa rỗng toếch, ba tôi cũng không biết nữa.

Không biết làm gì hơn ba tôi rơi xuống nền xi măng lạnh toát, nằm bất động, lịm dần đi. Hơn nửa giờ sau ông phát hiện má mình đang áp vào vết rạn nhỏ ai đó rạch trên nền, tạo thành đường hào cho kiến bò. Rất nhiều kiến từ đường hào đó bò lên má ông, chui vào khắp nơi trong ông. Ba tôi vùng dậy phủi kiến, lần theo vết rạch truy diệt lũ kiến. Dần dà ông phát hiện ra đó không phải là vết rạch thẳng, nó lòng vòng như nét chữ ai đó rạch trên nền xà lim. Kiên trì dò lần tới lui, ba tôi đọc được ba chữ Tôi bị oan!

Ba tôi vùng dậy. Ông nhớ ngay ra thân phận của mình, thì ông cũng là một tử tù oan khuất, sang sớm mai sẽ bị điệu ra trường bắn, chỉ sáng sớm mai thôi không thể kéo dài hơn. Bao nhiêu lần chỉ đạo xử bắn phạm nhân ông biết quá rõ, không ai muốn giam giữ lâu lắc, người ta chỉ muốn bắn quách đi cho xong. Ba tôi biết chắc bảy giờ ba mươi ông được ăn một bát cháo gà và hai quả chuối, tám giờ ông bị điệu ra sân đình, quì giữa một ngàn hai trăm quần chúng đang rạo rực hô muôn năm và đả đảo. Tại đây Đội trưởng sẽ luận tội với ba giai đoạn điếu cày, xong một giai đoạn chị Hiên sẽ hướng dẫn một ngàn hai trăm quân chúng rạo rực hô muôn năm và đả đảo. Chín giờ ông sẽ bị bịt mắt đứng dựa cột, một loạt đạn vang lên, rạo rực vang lên tiếng hô muôn năm đả đảo, đời ông sẽ kết thúc đúng chín giờ mười lăm phút, chắc chắn.

Nhưng ba tôi không tin ông sẽ chết một cách dễ dàng như vậy được. Ông ngồi thu lu góc phòng cố tính xem liệu ai có thể cứu mình. Từ nay đến sáng mai còn mười lăm giờ, tức chỉ còn chín trăm phút nữa thôi, thời gian quá ít để người bạn chí thiết của ông ở Hà Nội biết tin. Chỉ cần một cú máy của người đó gọi về huyện nói rằng Phạm Vũ không phải là gián điệp Quốc Dân Đảng là ông sẽ được thả ra tức thì. Không, chẳng cần đến một cam kết, chỉ cần người đó nhấc máy hỏi một cách giận dữ, nói tại sao lại bắt Phạm Vũ? Chắc chắn một giờ sau ông cũng sẽ được thả ra.

Vẫn biết hiện thời người đó không chịu mất thời giờ cho bạn bè, thứ bạn bè như ông lại càng không, ba tôi vẫn tin một cú điện thoại không quá mất thời giờ, cũng không nặng nhọc khó khăn gì, nhất là việc cứu người. Đánh thức tính nhân văn trong con người chính trị thật khó như đơm đó ngọn tre nhưng không phải không có những ngoại lệ.

Ba tôi tin người đó vẫn còn nhớ những khoản trợ cấp thương xuyên của ông bác Vĩ và món tiền đút lót khổng lồ cho cả bảy sĩ quan phòng nhì tại Quy Nhơn nhằm giúp cho người đó thoát tù tội, tránh được cái án chung thân. Ông bác Vĩ không biết chuyện này, hoặc vờ như không biết chuyện này, khi ba tôi được tin tưởng giao cho tay hòm chìa khóa đã lén lấy tiền giúp người đó. Người đó ra tù, ôm chặt lấy ba tôi, nói từ nay sống chết có nhau nhé, rồi nhảy tàu đi tít mù cho đến bây giờ.

Không ngu muội đến mức nghĩ rằng người đó sẵn sàng chết vì ông, nhưng ba phút cho một cú máy thì ba tôi tin. Vấn đề là ai sẽ báo cho người đó? Mạ tôi không biết người đó là ai, nếu biết người đó là ai bà cũng không biết gọi về đâu, nếu biết gọi về đâu cũng không ai cho gọi. Ba tôi biết giờ này cả nhà tôi đang bị giam lỏng trong chuồng bò bỏ hoang gần cầu Phôốc, chẳng biết làm gì ngoài việc ôm nhau khóc. Ông chợt nhớ đến anh Cả. Đúng rồi, thằng con cả của ông có thể chạy lên tỉnh chạy lên trung ương kêu cứu. Mười lăm tiếng không kịp chạy lên trung ương nhưng thừa sức chạy lên tỉnh, ở đấy có rất nhiều bạn chiến đấu của ông ở chiến khu Chóp Chài, chỉ cần một người vì ông họ sẽ biết làm gì để cứu ông.

Ba tôi đứng vụt dậy, niềm hy vọng rực cháy trong ông. Có thể giở này thằng con cả đang chạy đi cứu ông, dù nghĩ về đời không quá một bước chân nó cũng thừa sức biết phải chạy về đâu, tìm đến những ai. Ba tôi đi đi lại lại, đi đi lại, giá có thể liên lạc với thằng con cả trong một phút, chỉ cần một phút không hơn, ông có thể nói cho con ông biết làm thế nào để cứu ông trong trường hợp tất cả bạn chiến đấu của ông đều lánh mặt.

Anh Cả phải chạy vào tỉnh gặp bác Đông trai, bạn đồng môn của ba tôi cũng là hàng xóm chí thân của nhà tôi. Hiện thời bác Đông trai là phó ty công an, bác có thể yêu cầu giữ Phạm Vũ lại để khai thác. Gián điệp Quốc Dân Đảng rất nguy hiểm, cần phải khai thác để nắm được các đầu mối tổ chức Quốc Dân Đảng trên địa bàn. Bác Đông có quyền điều tên gián điệp Quốc Dân Đảng vào tỉnh để đấu tranh khai thác. Nếu được vậy thì trời cho ba tôi sống. Ba tôi thừa sức nói cho bác Đông hiểu, bác Đông cũng thừa sức nói cho cấp trên hiểu là ba tôi hoàn toàn vô tội. Đến đây vụ án có thể bị lật ngược, Đội trưởng và chi Hiên nếu không bị dựa cột thay ông cũng bị loại ngay lập tức ra khỏi cuộc cách mạng long trời lỡ đất. Nghĩ đến đấy ba tôi sướng điên, ông nhảy liền hai ba cái hú hét hai ba tiếng.

Chợt có con kiến lửa nhéo ở dái tai đau như bị ong đốt. Ba tôi chụp lấy dái tai cố bóp chết con kiến, vừa lúc một câu hỏi bỗng vang lên, y như con kiến chui tọt vào tai và hét lớn: Nhưng nếu anh cả không gặp được bác Đông thì sao? Ba tôi đứng ngẩn ngơ, ông sợ câu hỏi ấy.

Cả tháng nay bác Đông trai không về nhà. Bác Đông gái cũng không biết bác đi đâu, thời điểm này ít ai dám về nhà hoặc ngồi lì ở văn phòng, hết thảy đều nháo nhào chạy về cơ sở, ở đấy vừa kiếm được cơm rượu vừa khỏi bị chỉ trích quan liêu, thiếu ý chí tiến công cách mạng. Ấy là chưa kể cứ loanh quanh văn phòng đi về quê quán, ngứa mắt người ta khéo không bị chụp cổ. Cuộc cách mạng long trời lở đất đã ba năm, khắp nơi ra sức trừ gian diệt ác  nhưng hảy còn thiếu chỉ tiêu. Trung ương không giao chỉ tiêu, tự các cơ sở đua nhau đề ra chỉ tiêu để thể hiện lòng trung thành và tài năng của họ. Địa chủ đã tóm gọn từ lâu, trung nông tiểu tư sản chưa có lệnh giết, muốn đủ chỉ tiêu chỉ còn cách qui hết cho việt gian phản động, bọn này tội trạng vô hình không đo đếm được, rất dễ qui tội. Sở dĩ Đội trưởng tóm gọn ba tôi không ai thắc mắc cũng vì huyện nhà đang quá thiếu chỉ tiêu.

Con kiến quay lại nheo dái tai ba tôi một lần nữa, lần này ông không dám tìm diệt con kiến, để xem nó nói thế nào. Vừa lúc có ai đó thổi vào tai ông từng tiếng một: đừng- ảo tưởng- không-ai- cứu- được- anh- đâu. Tim ba tôi như bị hắt ra khỏi lồng ngực, ông ôm ngực ngồi rũ, lát sau ngẩng lên cười nhạt lầm bầm, nói nghe ai lại nghe mồm con kiến, ngu. Ông kiên trì tìm diệt con kiến, quyết không cho nó làm nản chí ông. Dù thế nào yes or no không phải là xác suất tuyệt vọng. Nhược bằng thằng con Cả của ông không tìm được bác Đông trai là số trời đã định, coi như xong một kiếp người, đếch gì.

Thực ra ba tôi đã tính nhầm, ông không biết anh Cả bị tóng giam chỉ một giờ sau khi ông bị bắt. Nếu được thả rong anh Cả cũng chẳng biết chạy đi đâu để cứu ba tôi. Chân lý bất biến Trần Ngô Đống tiên sinh dạy cho anh và đội Cờ đỏ đã thấm vào tận tủy rồi, anh chỉ biết ôm mặt khóc chẳng biết làm gì hơn. Giờ này anh Cả đang đứng khóc trong nhà kho phía sau Ủy ban hành chánh huyện. Suốt tám tiếng đồng hồ đứng khóc triền miên, chưa khi nào anh tự hỏi liệu có cách nào cứu được ba mình không, chân lý bất biến của Trần Ngô Đống tiên sinh đã chặn đứng mọi nẻo tư duy dẫn về câu hỏi ấy.

Trong nhà có một người cũng 18 tuổi như anh Cả, có thể thay anh Cả chạy lên tỉnh lên trung ương để cứu ba tôi, đó là anh rể, người vừa cưới chị Hai đầu năm ngoái. Anh rể tinh ranh hơn anh Cả, khi anh Cả chưa hề biết yêu là gì vợ con là thế nào, anh đã biết dụ dỗ chị Hai ra khỏi nhà, đè chị trên bờ đê từ đầu hôm đến rạng sáng. Kết quả chị tôi có chửa lúc chưa đầy 16 tuổi, anh mặc nhiên là chàng rể của nhà tôi không tốn một cắc cưới xin.

Không coi anh rể là đứa con trong gia đình, chưa khi nào ba tôi nhìn sửa mặt anh này, vậy mà khi có ai đó thổi vào tai ông từng tiếng một: đừng- ảo tưởng- không-ai- cứu- được- anh- đâu, thốt nhiên ông đã nghĩ đến phương án phải dùng đến thằng con rể trời đánh này. Cái chết đã không cho phép ba tôi từ chối ai giúp đỡ mình huống hồ là thằng con rể, cha đẻ nó là một trong bảy thành viên quyền thế nhất của Ban cải cách tỉnh nhà. Mặc kệ kiến nhéo dái tai ba bốn nhéo liền cùng với ba bốn tiếng hét ngu ngu xói thẳng vào tai, ông vẫn ngồi dựa tường cầu trời khấn phật giờ này thằng con rể đang chạy vào cầu cứu cha đẻ của nó.

Ba tôi không biết sáng nay ông bị điệu ra nhà, đàn con sau lưng ông không có anh rể. Chị Hai năn nỉ mãi anh buộc phải sang dự vào đám rước tiễn ba tôi về xà lim đình làng. Vừa mới chui vào đám rước anh đã giật mình dựng tóc gáy khi có ai đó gọi tên anh, nói thằng này là con rể ông Phạm Vũ. Anh lẹ làng dọt khỏi đám rước, lặn một hơi đến giờ phút này vẫn không thấy sủi tăm. Nếu biết chuyện này ba tôi có dập tắt niềm hy vọng về anh rể hay không? Chắc không. Khi cái chết cận kề không ai ngu gạt bỏ bất kì niềm hy vọng nào, kể cả niềm hy vọng chó đẻ.

Bây giờ là 11 giờ trưa. Một luồng sáng đập thẳng vào mắt ba tôi, ông bị lóa trong mười giây, sau đó dần nhận ra ai đó đã mở cái cửa sổ nhỏ bằng cuốn vở học trò nằm ở góc cao trên cùng. Một cái rá nhỏ đựng thức ăn được ròng dây thả xuống, người ta làm vậy để tránh mọi bất trắc khi mở cửa đưa cơm cho tử tù. Ba tôi vụt đứng dậy vội vã lên tiếng, nói ai đó ơi ai đó. Ngoài cửa sổ không có tiếng trả lời, không cần, ba tôi cứ hét lên, nói làm ơn làm phúc nói với thằng Cả tôi chạy vô tỉnh gặp bác Đông trai. Ai đó ơi làm ơn làm phúc…Tịnh không một tiếng đáp. Nửa giờ sau cái rá được kéo lên, không cần biết ba tôi đã ăn hay chưa. Ba tôi lại đứng vụt lên hét thật to, nói ai đó ơi làm ơn làm phúc…Bỗng có tiếng đáp gọn lỏn, nói thằng Cả bị giam lỏng rồi. Ba tôi đứng chết giấc chừng mười giây và bừng tỉnh, ông cuống cuồng hét thật to, nói làm ơn làm phúc nói với thằng con rể, ai đó ơi làm ơn làm phúc… Hét đến khan cổ thì thôi, chẳng ai trả lời, ba tôi đứng khóc lặng lẽ.

Ánh sáng ngập tràn căn phòng mười sáu mét vuông, ba tôi đứng nhìn bốn xung quanh. Căn phòng trống rỗng lạnh lẽo ngổn ngang những nét chữ vạch trên tường, mỗi ba chữ Tôi bị oan không có chữ nào khác. Có hai mươi sáu tử tù bị nhốt ở đây, ba tôi là người thứ hai bảy lại có hàng trăm dòng chữ Tôi bị oan la liệt trên bốn bức tường và nền nhà. Không biết những ai đã viết, lấy cái gì để viết. Kì lạ nhất là kiến đen bò kín đặc trên tất cả các nét chữ vạch, không sót một chữ nào, cảm giác chính lũ kiến đen đã sắp hàng tạo nên hàng trăm chữ Tôi bị oan ấy.

Quay lại nhìn bức tường sau lưng, ba tôi ngạc nhiên thấy dòng chữ Tôi bị oan rất to kéo dài từ đầu bức tường cho đến cuối bức tường, nét chữ đậm bốn, năm centimet. Kiến đen bu đầy trên những nét chữ đó, nổi cộm lên trên tường. Không ai có thể vạch được nét chữ to đậm như vậy, có ai đó đã lấy máu viết. Ba tôi đoán đúng, khi tiến tới gẩy một khúc kiến, ông thấy vệt máu đã khô cứng. Ông trân trố nhìn hàng vạn con kiến đen bu đầy trên những vết máu khô cứng ấy, nhớ đến một câu của G.Flaubert, hình như trong cuốn Nhật kí người điên thì phải: Em yêu, rồi một ngày em sẽ biết máu người tanh đến thế nào. Thốt nhiên ông buồn rũ ra.

May mắn cửa sổ vẫn mở, có lẽ đó là ân huệ cuối cùng tiểu đội du kích canh gác xà lim dành cho Chủ tịch thị trấn Phạm Vũ. Ba tôi ngồi dựa tường lắng nghe những âm thanh ngoài đời lọt qua cửa sổ. Hình như trời đang mưa. Tiếng ếch nhái nhao nhao cùng tiếng loa phóng thanh ẩm ướt, thứ âm thanh nhàm chán hàng ngày giờ đây thật quá đỗi thiêng liêng.

Lẫn giữa tiếng ếch nhái và tiếng loa phóng thanh là tiếng gì nghe như tiếng người, nhiều âm rè, thỉnh thoảng nhói lên chói tai. Mãi sau ba tôi mới biết đó tiếng hát say bét nhè của ông Kiểm Hát, người đàn ông cụt chân, hàng xóm của nhà tôi, sống bằng nghề đan nơm, hai chục năm trước là người bạn chiến đấu của ba tôi.

Ông Kiểm Hát nói và hát triền miên trong cơn say từ trưa đến giờ vẫn không dứt. Thoạt đầu nghe như tiếng rên, kế đến như tiếng thét, tiếng chửi, tiếng bù lu bù loa về một điều gì đó. Cuối cùng ông kết thúc bằng một câu ca tục tĩu được cất lên khá là du dương : “ Sinh ra cái đạo làm trai / ăn cho no vuốt cặc cho dài”- chân lý mọi thời đại của ông.

Không biết trời xui đất khiến thế nào, hễ cứ đến giờ loa phát thanh là ông say. Giờ say của ông chuẩn như giờ của đài. Hễ say là ông nói và hát rất to, rất triền miên, lời lẽ rất vô nghĩa cứ lặp đi lặp lại. Tiếng ông to đến nỗi át cả tiếng loa phóng thanh, điều tối kị của thời này, nó đồng nghĩa với xấc xược, giở trò đểu với chính quyền.

Công an huyện ba bốn lần gọi ông lên yêu cầu thay đổi giờ say, một yêu cầu rất nghiêm túc, ấy là vì người ta châm chước đến mười tám lần cầm mã tấu đi trừ gian diệt ác của ông. Tất cả những lần giết người của ông đều thành công. Chỉ duy nhất một lần, cũng là lần cuối cùng, ông không giết được người lại bị người chém đứt một cẳng chân.

Dân Thị Trấn không phải ai cũng giỏi giết người, vô số người thèm có được một lần trừ gian diệt ác như ông để ghi vào lý lịch, vinh danh cho con cháu được hưởng lộc mà không được. Ít ai bị công an gọi lên lại được mời ngồi, mời nước chè thuốc lá và khuyến cáo những lời nhã nhặn. Chỉ có công thần số 1 Thị Trấn mới được hưởng đặc ân đó.

Ông không hề lấy đó làm vênh vang, ông thừa biết người ta chẳng coi ông ra gì, còn có ra gì đối với kẻ hết khả năng chạy nhảy, chỉ còn trơ lại mỗi cái mồm. Bịt mồm kẻ cố cùng không phải chuyện dễ, không khéo bịt được cái mồm này lại mở ra trăm ngàn cái mồm khác. Lịch sử bịt mồm thiên hạ cho thấy có quá nhiều ví dụ.

Vả chăng, phàm là kẻ có tội đã biết hết mọi nhẽ ở đời, đối xử nhã nhặn có khi còn khó chịu hơn việc ra đòn hung bạo. Công an vâng vâng dạ dạ rất lễ độ, ông cũng vâng vâng dạ dạ rất lễ độ. Công an rón rén bắt tay ông. Ông cũng rón rén bắt tay công an. Công an kính cẩn chào ông, cung kính tiễn ông về với vẻ thân ái không ai có thể bắt chước được và rủa thầm hai tiếng đụ mạ khi quay vào phòng làm việc. Ông kính cẩn chào công an cũng với một thái độ kính cẩn, cung cúc ra về với một vẻ ăn năn không ai có thể bắt chước được và ném lên trời hai tiếng đụ mạ khi rời khỏi cổng đồn.

Rốt cuộc vẫn đâu vào đấy, giờ phát thanh của đài cũng đồng thời giờ say của ông đã điểm. “ Sinh ra cái đạo làm trai/ ăn cho no vuốt cặc cho dài”. Mỗi câu vớ vẩn đó thôi ông Kiểm Hát đã át hết mười lăm phút xã luận trong nước, ba mươi phút tin chiến thắng trong nước, ba mươi phút ca nhạc trong nước, mười lăm phút xã luận quốc tế, ba mươi phút tin chiến thắng phe xã hội chủ nghĩa, ba mươi phút dân ca nhạc cổ, mất toi cả buổi tối yên tĩnh xóm Cầu Phôốc.

A, tại sao ông Kiểm Hát không say ở nhà lại say ở đây? Tại sao cửa sổ không chịu đóng và ông Kiểm Hát đứng giữa trời mưa hát vọng vào? Khấp khởi trong ba tôi những câu hỏi hy vọng, bất chấp lũ kiến vẫn thi nhau nhéo dái tai ông. Có thể người bạn chiến đấu của ông năm xưa vẫn còn coi ông là người bạn chiến đấu. Hai mươi năm trước ông Kiểm Hát bị chém cụt chân, ba tôi đã đã cõng ông Kiểm Hát chạy từ làng Trung về làng Tô trốn thoát được trung đội dân vệ mấy chục thằng đang đuổi theo, vừa đuổi vừa bắn. Không cảm ơn ba tôi, cũng không ôm chặt ba tôi nói từ nay sống chết có nhau nhé, ông Kiểm Hát chỉ cười cái hậc, nói từ nay hết chiến đấu với nhau rồi, đụ mạ.

Một hòn sỏi bắn qua cửa sổ, hòn sỏi bọc giấy! Ba tôi chộp lấy, chữ ông Kiểm Hát rành rành: Thằng Tuy đã đi Thanh Hóa từ 5 giờ sáng, thằng bạn mi đang ở đó. Ba tôi muốn bay ra khỏi cừa sổ ôm chầm lấy ông Kiểm Hát, lần đầu tiên ông hiểu được giá trị lớn lao của tình bạn. Người bạn đã bị ông bỏ rơi hơn chục năm nay kể từ khi ông làm chủ tịch Thị trấn, trong thâm tâm ông vẫn coi đó là kẻ đầu bò cần tìm biện pháp xử lý, giờ đây đang tìm cách cứu ông.

Ba giờ sáng ba tôi bị bắt, không như hàng xóm xúm lại nhà ông hỏi vì sao, ông Kiểm Hát chống nạng đi lên huyện đánh thức thằng em phó chủ tịch huyện nhằm moi lấy thông tin người bạn chí thiết của ba tôi hiện đang ở đâu. Khi biết chắc người đó đang thăm và làm việc tại Thanh Hóa, 5 giờ sáng ông Kiểm Hát lôi cổ thằng con cả dậy, nói như vầy như vầy và giục nó đi ngay, càng nhanh càng tốt.

Thằng Tuy lái xe tải cho Công ty lương thực tỉnh, chỉ có nó mới đi về nhanh được, mới nói được rành rẽ vì sao ông bị bắt, thế mà ba tôi không nghĩ ra, từ khi bị bắt đến giờ chưa khi nào ba tôi nghĩ tới phương án này! Ông khóc nấc lên, nói trời đã có mắt, ôi ba mạ ơi trời đã có mắt!

Bây giờ khoảng ba giờ chiều, vốn sống nhiều năm trong hang đá ba tôi nhìn vệt sáng qua cửa sổ áng chừng thời gian. 5 giờ sáng thằng Tuy đi, 12 giờ trưa đến Thanh Hóa, nhiều nhất ba giờ chiều thằng Tuy sẽ gặp được người đó, nhất định giờ này thằng Tuy đã gặp người đó rồi. 4 giờ chiều thằng Tuy sẽ quay về, chậm nhất 9 giờ đêm sẽ có tin, sáu tiếng nữa ba tôi sẽ có tin.

Sáu tiếng đồng hồ dài hơn thế kỉ. Ba tôi đi đi lại lại vài chục vòng, nằm lăn qua lật lại vài trăm lượt, đứng lên ngồi xuống vài chục phút… Sáu tiếng đồng hồ đã trôi qua, 9 giờ tối đã đến. Không thấy tăm hơi ông Kiểm Hát. Ba tôi ngồi im lìm dán mắt lên cửa sổ, bây giờ là khoảng sáng trắng mờ, âm thầm đếm nhịp tim tính thời gian. 75 nhịp tim là một phút, một giờ trôi qua, hai giờ trôi qua, ba giờ trôi qua, bốn giờ trôi qua, năm giờ trôi qua, sáu giờ trôi qua… Ba giờ sáng vẫn không thấy tăm hơi ông Kiểm Hát.

Ba tôi ngồi nơm nớp lo kiến cắn dái tai. Kiến chưa cắn dái tai ông vẫn còn hy vọng. Mười hai giờ trôi qua chưa thấy kiến cắn. Thỉnh thoảng có một hai con bò lên dái tai, ba tôi hồi hộp đến nghẹt thở. Kiến không cắn, a ha kiến không cắn, lồng ngực ông muốn vỡ tung vì sung sướng và hy vọng.

Khoảng sáng mờ cửa sổ bị che khuất, một cái đầu chuồi vào. Ông Kiểm Hát! Ba tôi chạy tới dưới chân cửa sổ, nói gặp không? Ông Kiểm Hát thì thào, nói không gặp được nhưng người ta cho nối máy, thằng Túy kể hết cho ông đó rồi. Ba tôi hấp tấp hỏi, nói sao sao, ông đó nói sao. Ông Kiểm Hát nói thế à. Ba tôi không hiểu, nói là sao, thế à là sao. Ông Kiểm Hát nói ông đó chỉ nói thế à rồi dập máy. Cái đầu ông Kiểm Hát biến mất sau cửa sổ.

Ba tôi rơi xuống nền măng lạnh toát, nằm im như chết. Kiến đen đang ngủ yên trong các vạch chữ ở bốn bức tường và nền nhà bỗng đâu thức dậy, chúng lũ lượt bò tới ba tôi. Trong phút chốc hàng vạn, hàng chục vạn con kiến đen phủ kín lấy người ông.

Rút từ truyện dài Những chuyện có thật và bịa đặt của tôi

About these ads
By nguyenquanglap Posted in Truyện