5. Anh Tư

Tôi nằm ngắm cái bóng ba tôi đang ăn khoai, một vài ba cử động lặp đi lặp lại đơn điệu nhàm chán làm tôi thiếp đi lúc nào không biết. Khi mở mắt trời đã mờ mờ sáng, ba tôi đang ngồi sát bên tôi, hình như ông ngồi ngắm tôi như thế đã lâu lắm. Ông bế tôi lên, nói con tui dậy rồi nì. Rồi ông nói liên miên vừa nói vừa nựng, nói nhà mình đây con nì, ba đây nì, mạ đây nì, chị Ba đây nì, anh Năm đây nì, anh Sáu đây nì. Anh Cả đi Liên Xô rồi, chị Hai lấy chồng bên Xóm Cống tề, mai mốt răng rồi chị cũng tới thăm con. Còn anh Tư  nữa, anh Tư  đang đi bắt cá chưa về…

Đúng rồi, còn một người nữa tôi chưa kể, hiện không có mặt nhưng không thể không nói tới, đó là anh Tư , đứa con thứ tư trong gia đình. Thực ra anh  là người trong gia đình tôi biết sớm nhất kể từ khi tôi thức tỉnh sau chín tháng ngủ li bì, chuẩn bị ra đời.

 Khoảng sáu giờ chiều, mạ tôi đi chợ về. Tôi ngồi thu lu trong bụng bà miên man chìm trong những giấc mơ màu nâu đỏ, kể từ tháng thứ tám những giấc mơ yes or no ngày một dày lên, đôi khi làm tôi tỉnh giấc. Lần này cũng thế, tiếng trống tiếng thanh la tiếng hò hét làm tôi tỉnh giấc. Những lần trước tôi chỉ tỉnh lơ mơ, lần này tôi tỉnh hẳn. Thì ra mạ tôi mang tôi đi qua một đám rước hay mét tinh gì đó.

Thị trấn của tôi rất thích tổ chức những đám rước và mét tinh. Thường thì các đám rước dần tụ lại thành mét tinh hoặc từ mét tinh sẽ tỏa ra thành các đám rước mà những nhà chính trị vốn dĩ rất khôn ngoan lại dùng một từ rất lộ liễu là đi – cổ – động. Đám rước mạ tôi đang đi qua là đám rước của trẻ con, đội Nhi đồng Tháng Tám của Thị Trấn,  tập thể của lũ đứa trẻ hỉ chưa sạch mũi, trong đó có anh Tư của tôi.

Đám rước của anh Tư, gọi vậy cho nhanh, chia làm ba khúc mỗi khúc chừng ba chục mét, gõ trống khua thanh la ầm ĩ. Anh Tư được chọn làm người dẫn đầu khúc cuối của đám rước. Đấy là niềm vinh dự vô biên của bất kì đứa trẻ nào sống ở thời này. Mặt vác lên trời mặt mày nghiêm trọng, anh Tư vung cao nắm đấm, hô  đả đảo Ngô Đình Diệm phá hoại hiệp thương! Lũ trẻ đứa vung tay đứa nhảy lên, tranh nhau hô đả đảo đả đảo đả đảo! Tiếng hô nhao nhao nghe như cãi lộn nhau. Anh Tư trừng mắt quát đ. mạ hô cho đều vào, rồi lại vung  cao nắm đấm hô  Hồ Chủ Tịch muôn năm!  Lũ trẻ lại nhao nhao muôn năm muôn năm muôn năm! Anh Tư lại trừng mắt quát đ. mạ hô cho đều vào!

Đám rước nào cũng có hai phần rất rõ rệt: phần đả đảo và phần muôn năm. Đây là đám rước của trẻ con, chúng luôn luôn hưởng ứng những cuộc đi chơi hồ hởi phấn khởi như thế này, muôn năm đả đảo gì cũng được tuốt. Bảo đảm có ai đó túm lấy lũ trẻ, nói muôn năm là chi đả đảo là chi, chúng sẽ nhăn răng cười, nói biết chết liền.

Chỉ sau năm phút nghiêm ngắn trước những cái nhìn nghiệm trọng của các anh chị phụ trách, chúng đã làm rối loạn đám rước bằng việc xô đẩy, cấu chí nhau, và nói chuyện, nói chuyên râm ran suốt cả hành trình. Chẳng đứa nào biết hiệp thương là cái gì, Ngô Đình Diệm là thằng cha căng chú kiết nào, chúng chỉ xem chừng người phụ trách hô “muôn năm” hay “đả đảo” để hưởng ứng cho kịp thời mà thôi. Khoảng năm trăm mét đầu tiên của hành trình, tất cả đều nhịp nhàng, kẻ hô người hưởng ứng cứ răm rắp, hoàn toàn toát lên khí thế hào hùng, khí thế mà Thị trấn quê tôi từ trẻ đến gìa luôn luôn muốn chứng tỏ. Sau đó tóa hỏa tam tinh, đầu đoàn hô “muôn năm”, cuối đoàn hô “đả đảo” nhặng xị cả lên.

 Các anh chị phụ trách sau một nửa chặng đường hồ hởi phấn khởi điều khiển đám rước, đã đến lúc thấy mệt và chán. Nửa chẳng đường còn lại chỉ độc mỗi nhà dân, các trụ sở công cộng – địa điểm ghi nhận nỗ lực hồ hởi phấn khởi của họ- đã cách một quãng khá xa. Không ai còn thấy hứng thú điều khiển đám rước nữa, họ thây kệ lũ trẻ muốn hô thế nào thì hô. Hai đứa phụ trách khúc đầu và khúc giữa cũng đã chán. Sau hơn một giờ hô hét rã họng mỏi mồm, chẳng còn thiết tha gì với niềm “ vinh dự vô biên”, chúng nhảy vào đoàn đấm đá cấu chí với lũ trẻ. Lâu lâu chúng lại nhảy ra hô độc mỗi “muôn năm” hoặc “đả đảo”, thứ ngôn ngữ vừa đủ để hướng dẫn đám rước đi đến đích cuối cùng, tức thành công rực rỡ.

Anh Tư tôi thì không, trời phú cho anh một tinh thần trách nhiệm phi thường. Việc nhà cũng như việc công chưa khi nào anh từ chối khi được giao việc, cũng chưa khi nào được giao việc mà anh không hết mình. Gần một trăm bằng khen giấy khen trong ba chục năm anh làm công nhân cầu đường đã chứng minh điều đó.

Mặc cho hai thằng đầu đàn khúc đầu và khúc giữa đã bỏ cuộc, anh vẫn đi đều, vẫn vung nắm đấm hô vang khẩu hiệu. Khi anh đang hướng dẫn cho khúc cuối hô muôn năm thì ở khúc đầu bỗng nhiên hô đả đảo.  Anh chạy vọt lên khúc đầu tay chỉ miệng quát, nói phải hô muôn năm không được hô đả đảo. Lũ trẻ khúc đầu hưởng ứng tức thì, chúng rập ràng hô muôn năm. Ở khúc cuối chẳng hiểu làm sao cả lũ trẻ bỗng rộ lên hô  đả đảo, anh lại vọt về khúc cuối tay chỉ miệng quát, nói phải hô muôn năm không được hô đả đảo. Lũ trẻ nhao nhao phản đối, nói tụi tao muốn hô chi thì hô, mi cấm được à. Anh hét lên một tiếng kinh hồn, nhảy vào đấm đá điên cuồng. May anh phụ trách chạy đến can thiệp kịp thời không thì tan đám rước.

Tôi rất phấn khích. Tiếng trống, tiếng thanh la, tiếng hô rập ràng làm tôi rạo rực. Cả tiếng cấu chí, tiếng hò hét đuổi bắt nhau và cuộc đánh nhau bất tử của anh Tư  với lũ trẻ cũng làm tôi phấn khích.

 Bỗng lũ trẻ cất tiếng hát, rõ ràng là tiếng hát cuối đám rước đã bị đầu đám rước bỏ rơi chừng nửa cây số. Đầu đám rước vẫn say sưa hô “muôn năm” và “đả đảo”, thây kệ đuôi đám rước có đuổi kịp hay không. Thành công rực rỡ đang đến gần, mắc mớ gì phải đợi chờ kẻ khác. Đuôi đám rước sau một hồi nghe theo thúc dục của anh Tư vừa chạy vừa hô vẫn không đuổi kịp, bắt đầu tìm đến thành công rực rỡ theo cách của mình. Lúc đầu chỉ một vài đứa đầu têu réo lên vài câu hát vu vơ rời rạc. Dần dần cả cái đuôi đám rước bị bỏ rơi đồng loạt cất lên nhịp nhàng nhằm báo cho đầu đám rước biết : chúng mày bỏ rơi chúng tao thì chúng tao không thèm hô nữa.

 Anh Tư hốt hoảng nhảy ra đầu khúc cuối tay khua miệng hét, nói ê ê không hát không hát, phải hô khẩu hiệu. Thây kệ anh Tư hò hét lũ trẻ vẫn vỗ tay đập nhịp hát rập ràng. Anh Tư bật khóc vì bất lực, đành im lặng để cho lũ trẻ muốn làm gì thì làm, cuối cùng anh cũng vỗ tay đập nhịp hát theo lũ trẻ.

“ Hà Nội lắm ô tô, Liên Xô lắm máy cày, Trung Quốc thì nhiều máy bay, đánh cho giặc Mỹ bươu đầu…”. Bài hát đưa ra một loạt đồ chơi đến Chúa cũng phải thèm. Tôi sướng lịm sườn, thốt nhiên có quyết định tức thì: Cần phải ra Đời ngay lập tức, mặc kệ nguyên tắc tiền sử tôi phải ở trong bụng mẹ tôi cho đủ chín tháng mười ngày.

 Tôi đạp mạnh vào thành bụng mạ tôi. Mạ tôi thét một tiếng rùng rợn, tựa tiếng thét của người bị dao cùn đâm trúng ngực. Bà ngã lăn ra đường quằn quại. Tôi ân hận quá, hậu quả của việc vi phạm nguyên tắc tiền sử đã dáng xuống đầu mạ tôi. Tôi lặng lẽ đưa chân về đúng vị trí bắt buộc của  nguyên tắc tiền sử. Mạ tôi vẫn không thôi quằn quại, bà rên rỉ như người sắp chết…

Anh Tư tôi chạy tới đỡ mạ tôi dậy, nói mạ sắp đẻ rồi! Mới 11 tuổi đầu không thể cõng được mạ, anh loay hoay tính tìm người lớn giúp đỡ nhưng bản tính không muốn nhờ cậy khiến anh chần chừ, kể cả việc chạy lên huyện ủy gọi ba anh cũng chần chừ. Khi có thể tự mình giải quyết được, dù có khó khăn gian khổ bằng giời anh cũng nói không với mọi đề nghị giúp đỡ. Mạ tôi biết tính anh, khi  ba bốn người đàn bà đi chợ về  lật đật chạy tới dìu bà, nói để tụi tui đưa chị về trạm xá, mạ tôi đã nhăn nhó nói thôi, cứ để thằng cu nó lo. Mấy bà không chịu cứ xúm lại tính dìu mạ tôi đi. Anh Tư trợn mắt lên nhảy bổ tới, nói để mạ tui đó cho tui. Anh chạy  vào nhà ai đó cạnh đường, lát sao kéo ra chiếc xe ba gác, nói mạ chịu khó ngồi lên đây. Mọi người xúm lại đỡ mạ tôi lên xe. Anh ráng hết sức kéo mạ tôi băng băng đi qua trước mắt mấy bà đi chợ. Họ lắc đầu thè lưỡi, nói khiếp chưa ông Trương Phi nhà ông cu Vũ. Thế là anh Tư có thêm một biệt danh.

 Tất nhiên anh Tư không dại dột đưa mạ tôi về trạm xá Thị Trấn.  Rất ít người đưa bệnh nhân đến đó, nơi chỉ có hai người đàn bà dở hơi chỉ biết hỏi : “Đau chi?” và quát : “ Làm chi mà đưa đến chậm rứa? ”. Ngoài hỏi và quát họ không còn biết làm gì, thực tình cũng chẳng làm được cái gì ở một trạm y tế luôn lấy rỗng không làm căn bản. Anh đưa mạ tôi về chuồng bò vào đúng giờ ăn cơm tối, chính xác là ăn khoai tối của nhà tôi.

Chị Ba cuống quit chạy ra, nói mạ răng rứa mạ răng rứa. Anh nói mạ đẻ chơ răng. Anh Năm, anh  Sáu- hai người anh hỉ chưa sạch mũi của tôi- sướng phát điên lên, ôm nhau nhảy cà tẩng , nói a mạ đẻ mạ đẻ! Niềm vui sướng của họ ná ná việc họ nhìn thấy con mèo cái nhà ai chui tọt vào chuồng bò nhà tôi, đẻ một loạt sáu chú mèo con, họ sướng ngây ngất, ôm nhau nhảy cà tẩng , nói a, mèo đẻ mèo đẻ!.  Anh Tư tay chỉ miệng quát, nói  cút đi cho mạ  đẻ! Và lùa họ sang nhà bác Đông ăn nhờ ở nhờ. Biết bác Đông gái bị ốm, anh ba chân bốn cẳng chạy đi gọi bà đỡ khác, rồi lại ba chân bốn cẳng lên huyện ủy gọi ba tôi .

           Thế là xong, anh túc tắc xách nò ra hói đơm cá, không cần biết mạ tôi đẻ đái ra sao. Anh chẳng coi việc tôi sắp ra đời là quan trọng, tất nhiên càng không phải là niềm vui, nó chỉ báo cho anh biết nhà sắp phải chia thêm một bát cơm, ba mạ phải kiếm thêm  một ngày ba hào, anh phải kiếm thêm một cân tôm hoặc một oi cá bất luận nắng hay mưa, mang ra chợ bán nhằm bổ sung vào túi tiền luôn  thiếu hụt của nhà tôi.

          Khó nhọc đã đè nặng lên chú bé mười một tuổi khiến anh không bao giờ cười. Gương mặt cau có, ưu tư luôn  thảng thốt về một điều gì chưa kịp làm. Vào lúc mưa gió ầm ầm, anh chạy về nhà lần thứ hai. Không cần biết cả nhà đang táo tác vì hai mái chuồng bò đã bị gió bốc lên trời, tôi vừa ra đời và đang ngập ngụa trong nước, anh điên khùng bới tìm cái rớ rách. Cái rớ rách mới là điều quan trọng chứ không phải là tôi. Anh vừa bới vừa kêu ca rầm rĩ việc cả nhà luộm thuộm đã vứt cái rớ rách của anh đi đâu, trong khi anh đã phát hiện ra luồng cá bống hàng ngàn con theo nước nguồn bơi về đen đặc giữa hói nước lợ.

 Chị Ba vén cái bạt lên chỉ  tôi cho anh, nói Tư, em đây nì. Mặc kệ, anh không thèm để ý, anh đang tìm cái rớ rách, đấy mới là điều cốt tử, cá bóng kho cho người đẻ mới là điều cốt tử. Mãi khi anh tìm được cái rớ rách, hóa ra nó nằm dưới lưng mạ tôi, anh mới chui vào bạt, thò bàn tay lạnh ngắt cầm lấy cổ chân tôi lắc lắc, nói lạnh em hè! Mi rồi cũng khổ thôi. Dứt lời, anh lao như tên bắn ra con hói có hàng ngàn con cá bóng đang về, nguồn dinh dưỡng tuyệt hảo cho người đẻ. Mạ tôi đang rất cần những con cá bóng, anh chỉ đinh ninh mỗi điều đó, tất cả đều không quan trọng.

 Quá nửa đêm anh Tư vẫn chưa về, còn lâu anh mới về giờ này, đây là giờ anh đi thăm các bẫy lươn. Ba mươi lăm cái trúm ngậy mùi giun đất xào với lá ổi tươi được găm rải dọc bờ hói, nhử những chú lươn ngờ nghệch háu ăn. Một con lươn to là hai hào, mười con là hai đồng. Vì hai đồng anh sẵn sàng bỏ nhà thức trắng đêm bên bờ hói.

 Đêm nay anh Tư gặp may,  bắt được hơn chục con lươn to và hai oi ( hom giỏ) to đầy cá bóng. Cái chòi rơm tạm bợ bên bờ hói đã bị cơn lốc hồi hôm đánh cho tơi tả. Không ngủ lại đấy như mọi đêm, anh mang về nhà đổ tất cả vào cái vại sứt trước cửa chuồng bò rồi ngồi tựa vào vách chuồng bò cứ thế  mê mệt ngủ, vào lúc ba tôi ngồi nhìn đống vỏ khoai nước mắt hai hàng.

(Còn nữa)

Rút từ truyện dài Những chuyện có thật và bịa đặt của tôi

About these ads
By nguyenquanglap Posted in Truyện