Đọc Những mảnh đời đen trắng của Nguyễn Quang Lập

Thụy Khuê

NQL: Chị Thụy Khuê vừa gửi cho mình bài viết của chị về cuốn Những mảnh đời đen trắng cách đây 20 năm. Rất mừng. Cảm ơn chị Thụy Khuê rất nhiều.

Vào khoảng những năm 87-88-89, thời điểm sôi động của văn học đổi mới trong nước, một số tác phẩm nổi tiếng vì tính chất đối kháng, phô bầy những nét tiêu cực của xã hội một cách rốt ráo và thẳng thừng đã được phần đông độc giả đón nhận vì lối viết lôi cuốn, hấp dẫn, vì tính chất thời sự và lòng can đảm của tác giả hơn là vì giá trị nghệ thuật.

Ngược lại, cũng trong thời điểm đó, một số tác phẩm có nội dung nhân bản sâu sắc, có giá trị nghệ thuật cao, lại không mấy ai biết đến. Sự vô tình của đa số quần chúng trước những tác phẩm văn học giá trị là một định luật khắt khe mà người cầm bút nói chung phải chịu.

Những mảnh đời đen trắng của Nguyễn Quang Lập là một trong những tiểu thuyết giá trị chịu đựng sự thiệt thòi vì tác phẩm không có tính cách hấp dẫn, không tố cáo ồn ào, mà chứa đựng những nhận thức tinh tế và sắc bén về bản chất con người trong xã hội miền Bắc Việt Nam sau 54, qua nếp sống của một thị trấn nhỏ ven bờ sông Linh (tức sông Gianh), với những tranh chấp, đối chất và mê chấp của hai giai từng xã hội: giai cấp vô sản thống trị, có tài sản, có địa vị, quyền uy và giai cấp trí thức bị trị, không có tài sản và bị đàn áp.

Trong bài tựa, Hoàng Phủ Ngọc Tường giới thiệu Nguyễn Quang Lập với những hàng:

“Đọc Nguyễn Quang Lập, thoạt đầu người ta đều tưởng rằng tác giả phải là một người lính già đã từng trải trận mạc, và chất chứa bên trong biết bao nhiêu kỷ niệm đau đớn về chiến tranh thì mới viết như thế. Té ra Nguyễn Quang Lập chỉ mới trên ba mươi tuổi, và chỉ sống những năm nghiã vụ quân sự trong binh chủng bộ đội tên lửa để trở thành nhà văn. Và chính vì thế, để phát hiện ra những nhân vật của mình, Lập đã không nhìn lên bầu trời, mà cúi xuống lòng mình, đào bới ở đó những điều thấy cần nói với mọi người và quả nhiên, công chúng đều chăm chú nghe Lập nói. Trước đó chưa ai nói về chiến tranh giống như Nguyễn Quang Lập cả.”

Bài tựa viết rất hay. Tôi đồng ý với Hoàng Phủ Ngọc Tường rằng Nguyễn Quang Lập đã cúi xuống lòng mình mà đào bới mới viết sâu xa được như thế và trước đó chưa ai nói về chiến tranh như Lập. Nhưng, Nguyễn Quang Lập không chỉ viết về chiến tranh – ít nhất trong tác phẩm Những mảnh đời đen trắng. Đúng hơn, Nguyễn Quang Lập viết về những thảm kịch chi phối và dằn vặt con người trong xã hội miền Bắc sau 54. Một xã hội có vết hằn của chiến tranh cũ (chống Pháp), trực diện với chiến tranh mới (chống Mỹ) và trầm mình trong chiến tranh lạnh, một thứ bi kịch thường trực giữa người và người, phải chung sống với nhau như vợ-chồng, cha-con, anh-em… nhưng không hiểu nhau, không thể hiểu nhau vì trình độ khác biệt, vì không cùng quá khứ và nhất là không có cùng với nhau một điểm tựa tri thức và tâm linh.

Nguyễn Quang Lập thuộc lứa tuổi sinh sau ngày chia cắt đất nước, lớn lên trong lòng chiến tranh và trưởng thành khi hoà bình trở lại. Không có dĩ vãng chống Pháp để tự tôn cũng không vướng mắc gánh nặng hai mươi năm chống Mỹ để tự ti hoặc tự hào… Thế hệ anh, thế hệ của Lập, của Thùy Linh, của Hoàng… của Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Trần Vũ, Trân Sa, Hoàng Mai Đạt… may mắn có 20 năm tuổi trẻ bắc cầu giữa hai cuộc chiến, thoát được những mặc cảm, hệ lụy của lớp đàn anh đi trước nhưng có cái bất hạnh thừa hưởng gia tài nhầu nát của một Phạm Duy để lại cho em một nước phân lìa, để lại cho em một giống nòi chia… ngọn cờ khăn xô mầu trắng… để lại cho em một bãi sa trường[1]

Thế hệ của Lập, khi ra đời, thì dòng sông Linh đã nằm đó. Lập gắn bó với đất nước, với những khổ đau của con người như dòng sông gắn bó với thượng nguồn, mặc dầu vẫn muốn tự do vùng vẫy trôi ra biển cả. Lập nói về dòng sông của mình:

“Sông Linh dường như bao giờ cũng chờ đón họ, từ bao đời nay nó vẫn dịu dàng chờ đón với tất cả. Nó bắt nguồn từ phía bên kia dãy núi với 99 ngọn (…) Trước khi trôi về thị trấn, sông Linh ngoái lại thượng nguồn nhiều lần như nuối tiếc vì một nghiã vụ chưa thành về

nơi đã sinh ra nó, hoặc là thương nhớ những gì nó đã sống với thượng nguồn. Những vòng tròn mở rộng của dòng sông do “ngoái lại” nhiều lần đã tạo nên những ốc đảo đứng trầm ngâm giữa dòng sông. Gặp thị trấn, dòng sông bỗng vỡ ra, chảy tràn trề không thành dòng, dập dềnh mọi bãi bờ men thị trấn. Lần đầu tiên dòng sông biết đến một miền quê đông vui (…) Dòng sông không muốn chảy tiếp nữa, cứ dùng dằng quanh thị trấn cho đến lúc nó sực nhớ nó là dòng sông, đích của nó là biển cả, thế là nó vội vã trôi đi. Trước khi tạm biệt thị trấn, nó ngoái lại hai lần: Chào, chào và lao như điên về biển cả. Bắt đầu từ thị trấn, sông Linh chảy xiết hơn, ầm ào, hùng hục… Hình như nó sợ nếu dừng lại, ngoái lại một lần nữa, dù chỉ trong giây lát, là nó không thể đi được, không có cách gì rút ra mà đi được…” (trang 83)

Sông Linh là hiện tại muốn dứt bỏ quá khứ để tìm đến tương lai, nhưng hiện tại vẫn bị chi phối bởi quá khứ và tương lai chỉ là viễn tượng của hiện tại. Sông Linh còn là lương tâm tha thiết muốn tìm đường sống mà vẫn ham chơi, tha thẩn vào những khúc quanh vô lương, vô sỉ, không dứt ra được. Sông Linh là phần tâm linh khao khát hạnh phúc của tác giả. Vì thế anh tra vấn và truy nguyên tại sao không có hạnh phúc? Quyết tâm soi rọi những mờ ám trong quá khứ, kiểm nghiệm hành vi và nhân cách của thế hệ trưóc mình bằng một ngòi bút không mảy may căm thù, để viết nên những dòng ai điếu cho tình yêu không có đất sống trong một cõi nhân sinh không tha thiết đến vấn đề nhân bản.

Những mảnh đời đen trắng là một tác phẩm mạnh và dứt khoát. Là cuộc xung đột giữa hai tầng lớp xã hội, hai quan niệm sống khác nhau. Giữa hai thế hệ trẻ và già, giữa lớp người có quá khứ oai hùng và lớp người không được quyền có quá khứ. Giữa lớp bần cố nông làm chủ tập thể, làm chủ tình thế và lớp trí thức tiểu tư sản “đầu thai nhầm thế kỷ, bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh[1]. Cả hai giai tầng đều đáng thương mà không đáng trách. Một bên có khả năng nhận thức mà không được sử dụng. Một bên không có khả năng mà phải gánh vác những công việc quá sức mình. Sự xung đột trải dài trên hai thế hệ:

- Thế hệ thứ nhất: Thím Hoa, mẹ Thùy Linh và hoạ sĩ Tư, chú ruột Thùy Linh, yêu nhau từ trước cách mạng tháng tám. Mối tình của họ bị cuộc kháng chiến chống Pháp phân chia. Họ mất nhau rồi lại gặp nhau, nối lại mối tình ngang trái, tuyệt vọng. Họ phải chống trả lại sức ép của xã hội, của dư luận, của giai cấp thống trị và trong cuộc chiến trường kỳ, họ thất bại.

- Thùy Linh và Hoàng, thế hệ thứ nhì, lớn lên và yêu nhau bên bờ sông Linh, muốn dứt khoát với quá khứ của cha mẹ, đoạn tuyệt với đấu tranh giai cấp, thờ ơ với chiến tranh, đạp lên dư luận và thành kiến để sống cho tình yêu, nhưng quá khứ vẫn nhắc nhở, dư luận và thành kiến vẫn trơ trơ chắn ngang chân họ, cấm đoán họ, hành hung họ, xô đẩy họ vào ngõ kẹt đường cùng, vào sự phân chia vô lý và vô vọng.

Nguyễn Quang Lập tạo nên một không khí hài hước trong một cốt truyện bi thảm.

Đó là nghệ thuật của anh.

Họa sĩ Tư là hình ảnh của Tự do bị giam hãm, là Nghệ thuật bị đọa đầy trong môi trường phi nghệ thuật. Sự ngạo nghễ và khinh mạn của ông phản ảnh lối chống đối một cách tuyệt vọng của người nghệ sĩ. Những nhân vật khác thường là những chướng ngại của tiến bộ, được Nguyễn Quang Lập vẽ chân dung bằng những nét sống động và tinh quái:

- Đại úy Thìn, thời chiến “nổi tiếng là một người lính dũng cảm có một không hai khắp tám huyện trong tỉnh (…) Lính Pháp trong ba đồn đóng ở thị trấn hễ nghe đại uý xuất hiện ở đâu là tất thảy đều sảng vía, kinh hồn” (trang 15). Thời bình, đại úy huy động lực lượng dân quân du kích trong một công tác “người” hơn: “Trong 10 năm, kể từ ngày hoà bình lập lại (…) có đến 14 vụ hủ hoá xẩy ra trên tảng đá này bị dân quân du kích thị trấn, dưới sự cố vấn của đại úy Thìn, hoặc tóm gọn, hoặc đuổi chạy bán sống bán chết” (trang 22).

- Chủ tịch thị trấn Lê Đức Huy, ba đời cùng đinh, nghiên cứu hội họa siêu thực:

“Ông giở đống tranh ra, lần lượt xem kỹ lưỡng các bức tranh vẽ những mặt người méo mó, những con bò chạng háng choán cả bức tranh, những cái mông đàn bà, những con cò hai cổ, những đứa bé mặt đầy nét nhăn và lún phún ria mép.

- Thế này thì nguy hiểm thật!

Ông chặc lưỡi và giở tiếp hai chục bức cuối cùng vẽ đàn bà trần truồng, những người đàn bà không có đầu, loạn xạ các kiểu đứng ngồi. Ông nhìn kỹ từng bức một, rất kỹ: “Tình yêu” – “Nỗi đau các bà mẹ” – “Hỡi nhân loại hãy chấm dứt chiến tranh” – “Khát vọng sống”… Ông không chú ý đến các dòng chữ ghi trên các bức tranh mà nghiên cứu “nội dung” các bức tranh qua các “bộ phận bôi bác” của đàn bà được hoạ sĩ đặc tả khá dày công.

- Chỉ có đàn bà hàng tỉnh, thứ nào thứ nấy mới như thế này chứ nhân dân lao động thị trấn làm gì có – Ông kêu to (…) Hơn một giờ sau ông rời túp lều, vừa đi vừa lẩm bẩm:

- Kinh thật! Kinh thật! Đích thị là đàn bà hàng tỉnh!” (trang 33)

Trong không khí hoả mù các thứ đấu tranh, chủ quán thịt chó Cule tượng trưng cho lớp người thức thời, thiết thực, sáng suốt, biết sống:

“Các anh cứ việc đấu tranh giai cấp, em nhát em không dám. Em chỉ xin phục vụ thịt chó đầy đủ. Món nào ra món ấy. Giai cấp nào cũng ghiền thịt chó, thật đấy!” (trang 66)

Cách vẽ chân dung nhân vật của Nguyễn Quang Lập độc đáo, hóm hỉnh và tài hoa. Anh không mô tả trực tiếp, không kể lể dài dòng, nhưng anh dẫn dụ người đọc nhìn nhân vật trong một bối cảnh, một ngôn ngữ trào lộng kín đáo và người đọc “âm thầm” trở thành đồng loã với anh qua ấn tượng gián tiếp. Cung cách này chúng ta đã thấy ở Vũ Trọng Phụng, nay trở lại với Nguyễn Quang Lập.

Với những vấn đề “nghiêm trọng” như cuộc chiến hai mươi năm, cuộc chiến mà cả hai miền Nam Bắc đều tranh nhau đặt tên cho chính xác, cho có chính nghiã, Nguyễn Quang Lập cũng đùa cợt với những linh thiêng đó. Ngay từ những trang đầu của tác phẩm, anh đã “mô tả” hòn đá mà trai gái trong thị trấn lén lút dẫn nhau ra “hủ hoá” rồi bị bắt như thế này: “Người ta đồn rằng, hòn đá này có từ xa xưa, hình như từ thời “Trịnh-Nguyễn phân tranh”. Nó được đem về bằng hai mươi tám đòn khiêng, dùng để khắc bia mộ hay ghi chiến công quân lính chúa Trịnh” (trang 21).

Những dòng trên đây, ngoài thông điệp hóm hỉnh: faites l’amour, pas la guerre – hãy làm tình, đừng làm chiến, còn như muốn xúi bọn trẻ nên “làm tình trên bài vị anh hùng“.

Khi chiến tranh xẩy ra, Nguyễn Quang Lập vẽ nó dưới những nét hóm hỉnh thành bức biếm họa sống động tài tình:

“Trên trời ầm ầm tiếng máy bay. Không nhìn thấy gì cả, chỉ nghe tiếng rít như xé vải. Tiếng súng trường, đại liên, tiểu liên… rộ lên khắp thị trấn (…) Một nhóm nhân dân cố đu lên mái nhà bác Cả Rí. Người nào lên được vội vàng chạng chân đứng bắn liên tiếp từng loạt một. Những người sau ra sức đẩy đít nhau đu lên. Bác cả Rí nhảy đại lên cột rơm, hai chân kẹp chặt vào cột gỗ làm nòng cho cột rơm, ngửa mặt lên trời, mồm nhai trầu bỏm bẻm, tay phải cầm dùi cui gõ vào cái mâm đồng đang cầm ở tay trái. Có một chiếc AD6 hạ độ cao, sà thấp xuống rất nhanh, lao về phiá ủy ban nhân dân huyện. Một tốp ba người, không rõ trẻ hay già, ra sức đuổi theo, vừa đuổi vừa bắn. Khi chiếc AD6 bay vụt lên, đùn một đám khói đen thì khắp thị trấn ầm ầm tiếng la hét, tiếng hoan hô, tiếng gõ vào các dụng cụ sắt nhôm… Người ta ngỡ máy bay cháy, nhưng không phải, chiếc máy bay không việc gì sất, nó lật cánh hai ba lần như cố tình chọc tức “các anh hùng chân đất”. Đám dân quân đứng trên mái nhà bác Cả Rí vừa bắn vừa chửi. Bắn cũng hung mà chửi cũng dữ. Riêng bác Cả Rí thì vẫn hai chân kẹp chặt vào cột gỗ, miệng nhai trầu bỏm bẻm, cứ nhịp ba nện dùi thẳng cánh vào cái mâm đồng làm cho nó cong lên như một cái bánh đa nướng” (trang 148).

Cách viết tỉnh bơ và hóm hỉnh ấy đã bình thường hoá quan hệ giữa người với người, quan hệ giữa người và chiến tranh. Đem lại một sự công bình nào đó cho dân chúng hai miền chiến tuyến: Dân miền Bắc thường bị gồng lên như những chiến sĩ hình nộm anh hùng và dân miền Nam bị ép lại như một sản phẩm tiêu cực chuyên nghề buôn dân, bán nước.

 Cách viết ấy gián tiếp đả phá thần tượng. Giải toả kỳ thị Nam Bắc. Làm thánh thành thường. Lột xác anh hùng cho họ trở thành người đích thực. Nâng cao tầm tri thức của con người từ vị trí ấu trĩ lên vị trí trưởng thành, trách nhiệm.

Dĩ nhiên tác phẩm của Nguyễn Quang Lập không chỉ có những điểm son. Anh viết không đều tay, phần đầu kỹ càng, cô đọng, phần cuối dễ dãi, xô lệch. Những tình tiết lâm ly có tính cách dàn xếp phá vỡ mạch văn, mạch truyện.

Tuy nhiên Những mảnh đời đen trắng là một tác phẩm giá trị, bắt chúng ta phải suy nghiệm về quá khứ, cân nhắc hiện tại và dự liệu tương lai. Ngoài ra, tác phẩm còn lưu lại cho chúng ta nhiều chất liệu về đời sống xã hội Việt Nam, một xã hội còn gian nan, khốn đốn vì vết thương chiến tranh, trên da thịt và trong lòng người.

Thụy Khuê

 

Chương trình Văn Học Nghệ Thuật RFI tháng 12/1992

In trên báo Trăm Con, Canada, số 8, ra tháng 2, 1993

Và trên Những mảnh đời đen trắng, bản Hồng Lĩnh, Hoa Kỳ, 1994

…………………………………

[1] Tâm ca Để lại cho em của Phạm Duy.

[1] Thơ Vũ Hoàng Chương.




About these ads