MẶT ÂM BẢN CỦA NGUYÊN TẮC LÃNH ĐẠO TRONG ĐIỀU LỆ ĐẢNG

Bùi Văn Bồng

Điều lệ Đảng ghi rõ về nguyên tắc và phương thức lãnh đạo: “Lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thương yêu đồng chí, kỷ luật nghiêm minh, đồng thời thực hiện các nguyên tắc: tự phê bình và phê bình, đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Theo đó, Đảng phải hoạt động lấy đấu tranh tự phê bình và phê bình (TPB-PB) làm vũ khí sắc bén để Đảng được thường xuyên củng cố và xây dựng ngày càng vững mạnh. Thế nhưng, việc TPB-PB đã không được thực hiện thường xuyên, nặng về hình thức và thủ tục, thiếu nghiêm túc, kém thực chất, dù vẫn thường xuyên tổ chức thực hiện công tác này theo định kỳ, cũng như ngay trong các cuộc họp chi bộ, đại hội đảng bộ.

Sự buông lỏng “vũ khí sắc bén” này rõ nhất là trong hai nhiệm kỳ thứ 9 và thứ 10. Dư luận trong cán bộ và nhân dân vẫn bình phẩm, đánh giá rằng, suốt 2 nhiệm kỳ làm TBT, ông Nông Đức Mạnh đã xem nhẹ việc đấu tranh tự phê bình và phê bình trong Đảng, chất lượng xây dựng, củng cố Đảng rất kém, phương pháp cách mạng sai lầm: “Buông những cái cần phải nắm, nhưng đi nắm quá chặt những cái cần phải buông”. Thế mà, ông Nông Đức Mạnh vẫn tái đắc cử TBT khi đã 66 tuổi. Suốt hai nhiệm kỳ đó, nghị quyết nào cũng đánh gia rất “kêu” về thành tích xây dựng Đảng, tỉ lệ đảng viên và chi bộ, đảng bộ được đánh giá “trong sạch, vững mạnh” bao giờ cũng trên 90% (?!). Từ Đại hội Đảng khóa 11, đấu tranh TPB-PB đã có biểu hiện được chú trọng hơn, đi vào thực chất hơn.

 Hiện nay, để thực hiện Nghị quyết TW 4 “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, mới thấy vũ khí TPB-PB được đem ra “mài dũa lại” cho đúng với ý nghĩa là vũ khí sắc bén. Trong cuốn “Tự chỉ trích” (1939), cố TBT Nguyễn Văn Cừ đã trình bày những nguyên tắc cơ bản về tự phê bình và phê bình của Đảng, đồng thời vạch rõ những chính sách mặt trận của Đảng trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ Đông Dương, qua đó đấu tranh chống những nhận thức, tư tưởng sai trái để giữ vững và phát huy truyền thống đoàn kết nhất trí của Đảng. Đồng chí viết: “Công khai, mạnh dạn, thành thực vạch những lỗi lầm của mình và tìm phương châm sửa chữa, chống những xu hướng hoạt đầu thỏa hiệp, như thế không làm yếu Đảng mà làm cho Đảng được thống nhất mạnh mẽ. Làm như thế, không sợ địch nhân lợi dụng, chửi rủa, vu cáo cho Đảng, không sợ “nối giáo cho giặc”. Trái lại, nếu đóng cửa “bảo nhau”, giữ cái vỏ thống nhất mà bên trong thì hổ lốn một cục đầy rẫy bọn hoạt đầu, đó mới chính là để cho quân thù chửi rủa, hơn nữa đó tỏ ra không phải là một đảng tiên phong cách mạng mà là một đảng hoạt đầu cải lương...”.

Thời gian qua, việc tổ chức TPB-PB đang được triển khai làm từ trên xuống dưới, trên trước – dưới sau, trên kiểm điểm làm gương cho dưới, đầu có xuôi đuôi mới lọt. Mới đây, đợt kiểm điểm TPB-PB ở cấp cao nhất là 14 Ủy viên Bộ Chính trị đã coi như hoàn thành. Đánh giá của TBT Nguyễn Phú Trọng là: Khác với nhiều năm, việc chuẩn bị kiểm điểm tự phê bình, phê bình tập thể và cá nhân Bộ Chính trị, Ban Bí thư theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 được thực hiện rất nghiêm túc, cẩn trọng, chu đáo, chặt chẽ và khoa học. Tổ chức lấy ý kiến các cấp uỷ, tổ chức đảng, các chi uỷ, chi bộ nơi cư trú, các vị nguyên lãnh đạo Đảng và Nhà nước, nguyên Uỷ viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng và tương đương góp ý chuẩn bị kiểm điểm tự phê bình và phê bình tập thể và cá nhân Bộ Chính trị, Ban Bí thư trước khi kiểm điểm.

Trong kiểm điểm, các Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư đều phát biểu; không khí thảo luận thẳng thắn, góp ý dân chủ, đoàn kết, chân thành. Rằng hầu hết các vấn đề nổi cộm, bức xúc do các tập thể và cá nhân góp ý đều được phân tích, mổ xẻ. Khi kiểm điểm cá nhân, tất cả các Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư đều phát biểu góp ý, nhiều người phát biểu lần 2 và có trao đổi qua lại về cùng một vấn đề. Tổng Bí thư thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư kết luận về kiểm điểm của từng người. Bộ Chính trị sẽ ban hành các kết luận này để báo cáo Ban Chấp hành Trung ương.

Qua kiểm điểm đã làm rõ hơn, sâu hơn ưu, khuyết điểm và hạn chế của tập thể và các cá nhân trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư trên một số vấn đề quan trọng cấp bách về xây dựng Đảng (về trách nhiệm của tập thể và cá nhân trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý doanh nghiệp nhà nước, nhất là về các vụ việc Vinashin, Vinalines; về thiếu sót, khuyết điểm trong công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XI và công tác cán bộ; về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; về một số dư luận bức xúc liên quan đến cá nhân, gia đình, vợ con,…).

Sau khi Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội cùng các Ủy viên Bộ Chính trị, Ban bí thư kiểm điểm trong suốt 12 ngày, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng giao Uỷ ban Kiểm tra Trung ương xác minh các vấn đề liên quan đến một số Uỷ viên Bộ Chính trị và báo cáo trong tháng 9.

Trong đấu tranh TPB-PB, một vấn đề đặt ra là cần phải chú ý đến tính hiệu quả, sự đúng đắn và chuẩn xác khi áp dụng nguyên tắc theo Điều lệ: “Lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”. Theo nguyên tắc này, yếu tố “tập trung dân chủ” được hiểu rằng dân chủ ở đây thực chất mới chỉ là dân chủ trong Đảng, chưa mở rộng đến dân chủ toàn dân. Nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” đem lại hiệu quả, chất lượng theo hai cách.

Trước hết, Tổng bí thư, Chủ tịch nước không được quyền quyết định vấn đề gì, không được quyền kỷ luật ai khi chưa được tập thể (Bộ Chính trị, Ban bí thư, Thường vụ…) bàn bạc, biểu quyết, ra nghị quyết. Nguyên tắc này xem ra là bảo đảm tính dân chủ trong Đảng, tránh được độc đoán, chuyên quyền. Nhưng chính bản thân ý nghĩa tường như “dân chủ” này lại sinh ra hệ lụy: Nếu tập thể đa số tốt, trung thực, thẳng thắn, cùng phê phán cái sai, bảo vệ cái đúng, thì biểu quyết tập thể là có sức thuyết phục, sẽ giảm xấu, tăng tốt, nâng cao được chất lượng tổ chức đảng và đảng viên. Tuy nhiên, một thực tế đã và đang đặt ra là nếu tập thể lãnh đạo đó số thành viên mắc sai lầm, khuyết điểm lại đông hơn, lại là “một bộ phận không nhỏ bị suy thoái”, cùng trong nhóm lợi ích, xấu nhiều hơn tốt, cái xấu lấn át cái tốt, thì biểu quyết tập thể là vô cùng nguy hại. Khi đó, ý kiến đúng, chân lý, lẽ phải chỉ là thiểu số, thậm chí bị vùi lấp, trù dập, còn đa số lại ủng hộ, bênh che cho cái sai, nâng cấp cho cái xấu được đà lấn tới chiếm ưu thế một cách ‘vinh quang’.

 Đó là sự trái chiều vẫn xảy ra trong thực tế nếu như cứ khăng khăng phải theo đúng nguyên tắc này. Đã có nhiều vụ việc sai lầm của cá nhân đã quá rõ, chứng cứ rành rành, nhưng chờ cho tập thể (thường vụ) họp phải cần có thời gian. Đó khoảng thời gian cần có rất “lý tưởng”, lại là kẽ hở để cá nhân sai phạm có cơ hội đối phó, lật lọng, trở cờ, chạy tội. Đến khi đưa ra “tập thể lãnh đạo” lại được đa số “phiếu tiêu cực” ủng hộ, thì coi như tổ chức Đảng chịu bất lực trước những sai phạm của đảng viên mà không làm gì được.

Điều lệ Đảng quy định “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”, nhưng khi cá nhân phụ trách làm sai thì lại được “tập thể lãnh đạo” mà đa số “cùng hội cùng thuyền” dung túng, bao che bằng “tình thương yêu đồng chí”, “dĩ hòa vi quý” thì rõ ràng là lối thoát cho những sai phạm, kể cả những sai phạm lớn, để lọt lưới những trường hợp được minh chứng rõ đã lâm vào trọng tội. Hầu như cũng chưa có những ràng buộc có tính nguyên tắc hoạt động của Đảng “trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” như đã quy định cụ thể trong Điều lệ Đảng. Thậm chí đã nắm được chức sức, vai vế đầy quyền lực còn có hành động “đứng lên trên cả pháp luật”. Cho nên từ lâu đã có không ít đảng viên đã lợi dụng được kẻ hở để chạy tội, trốn tránh khuyết điểm, dẫn tới việc thực hiện kỷ luật trong Đảng không kịp thời, thiếu chính xác, không nghiêm minh.

Nếu như chất lượng tổ chức Đảng và đảng viên yếu kém đến mức ở một Ban thường vụ, một Đảng ủy hay chi bộ đa số đã mất chất đảng viên, tiêu cực, tham nhũng thì chính nguyên tắc ‘lãnh đạo tập thể’ lại tạo cơ hội để những lá phiếu trở thành thứ “bùa hộ mệnh” rất đúng nguyên tắc, qua đó cô lập, triệt tiêu lẽ phải, đẩy một thiểu số đảng viên chân chính, trung thành vào góc kẹt yếu thế hết đường xoay trở. Những cảnh huống do sự cho phép rất đương nhiên “thiểu số phục tùng đa số” phải chịu thua và thậm chí bị rơi vào tình trạng bất khả kháng, uất ức và nguy nan là từ cái gốc nguyên tắc cứng nhắc ấy đẻ ra. Đó cũng chính là “mặt âm bản” gây nhiều hệ lụy trái chiều và tai hại của nguyên tắc lãnh đạo từ lâu đã thành nền nếp này.

Từ thực tế và những biểu hiện nêu trên, triền khai TPB-PB nhằm thực hiện Nghị quyết TW 4 lần này ở mọi cấp từ trên xuống dưới cần phải cảnh giác trước những “kẽ hở” của nguyên tắc này, cần cảnh giác đề phòng các thủ đoạn, mánh lới cố tình dựa dẫm, lợi dụng nguyên tắc đẻ “phòng vệ” vì lợi ích cá nhân và nhóm lợi ích, cần phái thực sự “khách quan, biện chứng” như TBT Nguyễn Phú Trọng đã nói. Vấn đề đặt ra là cần xem xét bản chất thực tế của con người và sự việc, xử lý phải nghiêm minh, kịp thời, đúng người, đúng tội, phải coi trọng hiệu quả thực tế, có chất lượng khi vận dụng nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”.

Theo blog BVB

About these ads
By nguyenquanglap Posted in Lưu